Hoàng Thị Tuyết
“Thói quen đọc sách góp phần phát triển nhân cách của học sinh như thế nào?” là tên, là chủ đề của Tọa đàm hôm nay. Bài viết tập trung vào việc xem xét bàn bạc về ba nội dung khái niệm chủ chốt của chủ đề tọa đàm: thói quen đọc, nhân cách, và mối liên hệ giữa phát triển thói quen đọc sách và phát triển nhân cách. Tại sao cần thiết phải thảo luận để đi đến hiểu biết thống nhất về 3 nội dung này giữa mọi cá nhân đang tham gia cuộc tọa đàm? Rất cần thiết bởi vì chúng ta, mỗi người đến dự Tọa đàm hôm nay ắt hẳn đều là những cá nhân tự giác ủng hộ “việc giúp HS phát triển thói quen đọc sách” với một niềm tin rằng thói quen đọc sách vô cùng quan trọng, và vì vậy với quyết tâm góp phần giúp học sinh phát triển đọc sách. Niềm tin bền vững và đúng đắn nào cũng luôn được tạo dựng từ những hiểu biết liên quan. Khi được xây trên những nhận thức đúng đắn và sâu sắc, niềm tin biến thành ý chí, thành lí tưởng thôi thúc chúng ta hành động để đạt mục tiêu, lý tưởng ấy, để niềm tin được biến thành hiện thực. Nói cách khác niềm tin ấy sẽ khiến mỗi thành viên trong cuộc Tọa đàm cùng đi đến quyết tâm góp phần tạo nên thay đổi tích cực trong việc đọc của học sinh. Tuy nhiên sức mạnh và tác động tích cực của quyết tâm hành động của mỗi người chỉ đạt đến mức tốt như chúng ta có thể đạt đến chỉ khi mỗi thành viên, mỗi cá nhân trong cộng đồng hành động ấy được dẫn dắt bởi cùng nhận thức và tư duy. Bởi lẽ CÙNG NHẬN THỨC – SUY NGHĨ NHƯ NHAU THÌ SẼ CỦNG HÀNH ĐỘNG NHẤT QUÁN VỚI NHAU TẠO NÊN THAY ĐỔI GIỐNG NHAU. Như thế sẽ dẫn đến trạng thái tốt nhất của kết quả hành động là “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.
1. Thói quen đọc là gì?
Thói quen được lí giải là một tiến trình trong đó các tình huống dẫn đến hành động một cách tự động thông qua việc kích hoạt một loạt hành vi có điều kiện bằng các kích thích được lặp đi lặp lại từ môi trường bên ngoài. Không giống như những hành vi có tính chú ý chủ định khác, thói quen là một hành vi được vận hành một cách tự động, không qua kiểm soát của ý thức, không cần sự nỗ lực nhiều. Vì thế, thói quen tinh thần tốt có một sức mạnh vô cùng to lớn, giúp tiết kiệm năng lượng của não bộ và thậm chí còn đóng góp như một “bản chất thứ hai” của con người. Hiện nay, giáo dục thế giới đã đi đến thống nhất và đúc kết 16 loại thói quen tinh thần thiết yếu đóng góp lớn lao cho sự thành công trong cuộc sống của cá nhân:
- Kiên định- Persisting
- Làm chủ xúc cảm- Managing Impulsivity
- Lắng nghe với sự hiểu biết và đồng cảm- Listening with Understanding and Empathy
- Tư duy linh hoạt - Thinking Flexibly
- Nghĩ về suy nghĩ – Siêu nhận thức- Thinking about Thinking (Metacognition
- Nỗ lực cho sự chính xác- Striving for Accuracy
- Đặt câu hỏi và đưa ra vấn đề- Questioning and posing problems
- Áp dụng kiến thức cũ vào tình huống mới- Applying Past Knowledge to New Situations
- Suy nghĩ và giao tiếp một cách trong sáng và xác thực- Thinking and Communicating with Clarity and Precision
- Thu thập thông tin một cách toàn diện- qua nhiều kênh, nhiều nguồn khác nhau- Gathering Data through All Senses
- Sáng tạo, tưởng tượng và sáng kiến- Creating, Imagining, Innovating
- Nhìn thế giới xung quanh với trí tò mò, ham hiểu biết và đầy xúc cảm- Responding with Wonderment and Awe.
- Đón nhận khó khăn một cách cân nhắc, có trách nhiệm- Taking Responsible Risks
- Tìm thấy những điều thú vị, hài hước trong cuộc sống- Finding Humor
- Tư duy độc lập- Thinking Interdependently
- Luôn sẵn sàng học tập liên tục- suốt đời- Remaining Open to Continuous Learning
(Theo Arthur L. Costa and Bena Kallick, 2000)
Theo tôi trong danh mục thói quen này nhất thiết bổ sung Thói quen đọc sách- Reading habit.
Lâu nay, nghiên cứu thường đánh đồng thói quen với sự thường xuyên về mặt hành vi. Vì vậy, thói quen đọc được đo lường trên 3 yếu tố: lượng sách đọc, sự thường xuyên đọc và hoạt động đọc. Tuy nhiên, ngày nay theo quan điểm lí thuyết mở rộng hơn, thói quen đọc được các nghiên cứu chỉ ra là một khai niệm rộng tổng hòa các phương diện sau: sự thường xuyên về mặt hành vi, sự tự động hóa và sự thể hiện bản sắc cá nhân với tư cách là người đọc (Verplanken & Orbell 2003). Liên quan đến sự thường xuyên của hành vi, việc lặp lại liên tục của hành động đọc được xem là quan trọng bởi vì một hành vi nào đó đều phải được thực hiện thành công và lặp đi lặp lại trong quá khứ để thói quen được hình thành. Khi thói quen được hình thành thì sự lặp lại cần thiết cho việc duy trì bền vững thói quen đó đến mức tự động hóa. Mặt quan trọng khác của thói quen đọc là sự thể hiện bản sắc cá nhân với tư cách là người đọc. Phương diện này có ý nghĩa thực tế vì theo Verplanken & Orbell (2005), thói quen không chỉ hình thành nên chuỗi hành vi mà còn phản ảnh bản sắc cá nhân hoặc phong cách cá nhân.
Dưới đây là mô tả những biểu hiện cụ thể của ba phương diện thuộc thói quen đọc đã bàn ở trên:
Sự thường xuyên đọc
Phương diện này thể hiện ở hai hành vi cơ bản là: đọc đã được làm từ lâu và được làm thường xuyên, mỗi ngày. Mức độ thường xuyên của đọc hiện nay được chi thành 5 cấp như sau:
Mức thấp nhất- 1: Không đọc để thưởng thức/ giải trí;
Mức 2: nhiều nhất là 30 phút/ngày;
Mức 3: từ 30 phút đến 1 giờ/ngày;
Mức 4 = 1- 2 giờ/ngày;
Mức 5: hơn 2 giờ/ngày.
Tính tự động
- Bản thân làm mà không phải cố nhớ phải làm;
- Bản thân làm mà không hề nghĩ ngợi; chẳng cần nỗ lực.
- Đọc là công việc hằng ngày của bản thân như đánh răng, đi ngủ....
Sự thể hiện bản sắc hay phong cách cá nhân
- Cảm thấy khác thường nếu như một ngày không đọc.
- Nếu không đọc cảm thấy thiếu, cảm thấy không còn là chính mình.
- Cảm giác thích thú, hào hứng khi đọc
- Không cần suy nghĩ về điều mình đang làm.
- Bình thản an nhiên khi đọc ...
Ba phương diện bao hàm trong thói quen đọc trên đã được PISA (2000) áp dụng qua 3 câu hỏi mà tổ chức này đưa ra để khảo sát thói quen đọc của học sinh ở tuổi 15 thuộc 32 quốc gia. Câu hỏi thứ nhất là các em thường sử dụng bao nhiêu thời gian để đọc giải trí, thư giãn. Câu hỏi thứ hai là mức độ thường xuyên đọc các tài liệu khác nhau như là báo, email, tiểu thuyết. Câu hỏi thứ ba là thái độ của các em về việc đọc, chẳng hạn như các em nghĩ đọc là vui, đọc là điều quý giá không muốn từ bỏ, đọc là chuyện làm mỗi ngày tự nhiên không cần suy tính.
Có thể nói, nội dung trên cho chúng ta thấy thói quen đọc tự trong nó là một tiến trình bao hàm không chỉ sự tự động, tự chủ, tự giác mà còn cả hứng thú sâu sắc đến thành động lực nội tại, thành đam mê và cả những kĩ xảo đọc sách (kĩ năng đã được tôi luyện đến mức thành thạo) của cá nhân.
2. Thói quen đọc được hình thành tốt nhất qua “Đọc để thưởng thức vui” (Reading for pleasure)
Tổ chức The National Library Trust (UK – Liên hợp Anh quốc), Đọc để thưởng thức vui là việc đọc mà chúng ta làm với ý chí tự do, tự tại của riêng mình, với cảm giác hào hứng về niềm thỏa mãn mà chúng ta sẽ đạt được từ hành vi đọc.
Vào năm 2002, nghiên cứu của OECD đã có tìm thấy rằng “Đọc để thưởng thức vui” là yếu tố quan trọng đối với thành công học vấn của trẻ hơn là tình trạng kinh tế-xã hội của gia đình các em.
Năm 2012, the Education Standards Research Team (ESARD) tại UK – Liên hợp Anh quốc đã tập hợp được chứng cứ trong báo cáo nghiên cứu của họ về đọc để thưởng thức vui. Qua kết quả nghiên cứu, họ thấy rằng đọc để thưởng thức vui mang đến nhiều lợi ích về giáo dục, hỗ trợ cho sự phát triển cá nhân và có một tác động tích cực đến việc hình thành thói quen đọc cho học sinh.
- đạt thành tựu cao trong kĩ năng đọc và viết
- cải thiện tốt sức khỏe và thành quả học tập nói chung
- hiểu văn bản và áp dụng ngữ pháp
- hiểu biết chung và vốn từ mở rộng
- thái độ đọc tích cực
- tự tin và tự giác đọc
- yêu thích đọc, có niềm vui đọc về lâu dài trong cuộc sống
- tham gia tốt vào cộng đồng xã hội
Có thể thấy 4 trong 8 lợi ích trên (từ lợi ích thứ 4 đến thứ 7) liên quan đến các thành tố bên trong của thói quen đọc.
Nghiên cứu của ESARD cũng chỉ ra những học sinh không thích đọc có xu hướng
- trở thành người xem ti-vi quá độ
- dễ để bản thân vào những trải nghiệm bạo hành
- có hành vi học tập khó khăn vào tuổi 12
- ít hoàn thành bài làm ở nhà hơn
- ít nhiệt tình, hăng hái đi học hơn
Đặc biệt, nhà ngôn ngữ học Stephen D Krashen từ năm 1993 đã khẳng định , khi trẻ đọc vì niềm vui, khi các em bị như những chú cá “cắn câu vào sách, các em lĩnh hội gần như tất cả các kĩ năng ngôn ngữ và những yếu tố khác một cách tự nguyên và không hề có sự nỗ lực có tính ý thức nào cả. Đó là những dấu hiệu thể hiện rõ trẻ đang đi vào quỹ đạo của những đặc điểm của một người có thói quen đọc tốt.
Nhiều nghiên cứu quốc tế khẳng định mạnh mẽ rằng việc thường xuyên đọc để thưởng thức vui có liên quan mật thiết đến những gia tăng trong thành tích đọc và học tập (Clark, 2011, Clark & Rumbold, 2006, Clark & Douglas 2011, PISA 2009). Chẳng hạn, nghiên cứu của PISA năm 2009 đưa ra một tìm thấy nổi bật về tác động tích cực của việc đọc vì niềm vui đến năng lực học tập của học sinh thuộc 40 quốc gia tham gia khảo sát. Những học sinh thích đọc thể hiện năng lực đọc viết tốt hơn nhiều so với những học sinh không thích đọc. Cụ thể hơn, tổ chức National Literacy Trust của Anh Quốc năm 2011 cũng công bố một kết những học sinh nhỏ tuổi thích đọc thể hiện kết quả đọc viết tốt gấp 5 lần so với những học sinh không thích đọc.
Tổ chức cho HS “đọc vì niềm vui”, về mặt phương pháp, nhiều khi có vẻ như không cần xác định những kết quả học tập cụ thể hoặc những tiến trình kế hoạch dạy học chặt chẽ. Tuy nhiên, đã có nhiều chứng cứ chứng minh rằng không có gì có khả năng tạo nên thành công giáo dục hơn việc bảo đảm cho những đứa trẻ mà chúng ta dạy yêu thích đọc và biết thưởng thức đọc và tự nguyện làm như thế một cách độc lập. Nói cách khác, không chỉ là một sách truyện mà chương trình cần định thời gian cụ thế để học sinh được đọc. Một không gian trong suốt một tuần cho học sinh được chọn sách mình thích đọc từ bộ sưu tập cẩn thận của nhà trường và được đọc một cách thư giãn, không hối hả là điều chủ yếu trong tiến trình giúp HS phát triển thói quen đọc và niềm yêu thích đọc. Trẻ cần được giúp để hiểu rằng đọc là một hoạt động xã hội, rằng rất vui khi được nói về, được chia sẻ những cuốn sách mà mình đã đọc với người khác, khi được đưa ra những ý kiến riêng của mình với bạn bè, với giáo viên. Điều này được các nhà nghiên cứu nhấn mạnh là đặc biệt đúng đối với nhiều đứa trẻ mà chúng không có được môi trường đọc ở nhà.
Tuy nhiên, trên thực tế giáo dục ở nhiều nước trên thế giới, chính hoạt động đọc thưởng thức vui để phát triển tình yêu đọc sách như mô tả ở trên đang bị suy giảm. Thậm chí, ở Anh, gần đây, sau những cuộc tranh luận sâu rộng về đọc vì niềm vui trong nghị sự của Ngành Giáo dục ở quốc gia này, một “Department for Education Reading for Pleasure” đã được thành lập nhằm tạo thiết chế thượng tầng cho việc xúc tiến chủ trương đẩy mạnh tiến trình tạo cơ hội cho HS đọc thưởng thức vui trong khuôn khổ nhà trường và cộng đồng địa phương cũng như ở nhà.
3. Nhân cách là gì?
Một định nghĩa ngắn gọn đó là Nhân cách được thành lập bởi những mô thức riêng biệt về suy nghĩ, cảm xúc và hành vi làm cho mỗi người trở nên độc đáo. Nhân cách là sự kết hợp tương đối bền vững, nhất quán của các đặc điểm về cảm xúc, suy nghĩ và hành vi (Gordon W. Allport, 1961; Walter Mischel, 1999; Funder, 2001). Nhân cách cho phép phỏng đoán được điều mà một người sẽ làm trong một tình huống cụ thể nào đó (Raymond B. Cattell, 1950).
Nói cách khác, về cơ bản, nhân cách của một cá nhân là một thực thể độc đáo được tạo ra từ quá trình tương tác giữa cá nhân đó với môi trường mà họ đang sống. Nhân cách có thể được hiều là hành vi, hành động, cử chỉ, tư thế điệu bộ, thái độ và ý kiến của một của một người nào đó. Nhân cách cũng được miêu tả như là những cảm xúc, tư tưởng, quan niệm, giá trị bên trong về thế giới bên ngoài.
Trong lúc có nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách, hầu hết chúng tập trung vào mô thức hành vi, và những đặc điểm giúp có thể đoán định va giải thích hành vi của một người. Nói cách khác, nhân cách luôn hiển lộ. Cụ thể, nhân cách của chúng ta là cái gì đó mà ta luôn mang đi cùng. Nó tác động đến suy nghĩ, cảm xúc và hành vi, ở nơi mà ta đang ở đó, và cùng với ta, trong bất kì tình huống nào vào bất cứ lúc nào. Nhân cách giúp chúng ta tự điều chỉnh. Nhân cách giúp chúng ta “tồn tại” và đối mặt, vượt qua những thách thức quanh mình.
Sự phát triển nhân cách của một cá nhân tùy thuộc 8 yếu tố sau:
- Tự nhận thức
- Sự tường minh những mục đích nghể nghiệp và cá nhân
- Những nỗ lực chân thành để học những kĩ năng cần thiết và gỡ bỏ những yếu kém
- Tính nết và hành vi
- Lòng tự tin, sức mạnh của ý chi và tình thần tự kỉ luật
- Suy nghĩ tích cực và các giá trị đạo đức tốt
- Bổn phận, tinh thần trách nhiệm và chịu trách nhiệm
- Thái độ chấp nhận phản hồi của người khác đặc biệt là phản hồi trái chiều.
Theo thuyết Phân tâm học của Freud, nhân cách được chia thành ba cấu trúc:
- Cấu trúc “ID” là thành phần nhân cách có tình nguyên thủy, bản năng vận hành hoạt động theo nguyên tắc của cảm xúc-niềm vui.
- Cấu trúc “EGO” là thành phần nhân cách ra quyết định vận hành hoạt động theo nguyên tắc của thực tế-hiên thực.
- Cấu trúc “SUPEREGO” là thành phần đạo đức của nhân cách hợp thành những chuẩn mực xã hội về lẽ phải, thiện ác, đúng sai, tốt xấu.
4. Những thành phần trong nội tâm cá nhân liên quan đến nhân cách
Kĩ năng sống
Thuật ngữ “kĩ năng sống” ngày càng được sử dụng rộng rãi không chỉ trong cuộc sống đời thường mà đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục đào tạo. Theo Tổ chức văn hóa, khoa học giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO), kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Theo WHO, kỹ năng sống là tổng hòa những kỹ năng tâm lí xã hội và giao tiếp được vận dụng trong các tình huống hằng ngày để cá nhân tương tác có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày.
Nói tóm lại, kỹ năng sống không đơn giản chỉ ở nhận thức mà cao hơn nữa mà còn là sự tích cực vận dụng những kiến thức đã học vào xử lý các tình huống thực tiễn có hiệu quả, qua đó giúp con người sống cái nhìn tự tin, có suy nghĩ theo chiều hướng tích cực nhờ vậy sống vui vẻ, có ý nghĩa hơn.
Tập hợp 22 kĩ năng sống được nêu trong Tài liệu “Giáo dục kĩ năng sống trong môn học” (Bộ Giáo dục- Đào tạo, 2016) phản ánh đầy đủ ba phương diện phát triển của nhân cách (cảm xúc, trí tuệ/ nhận thức và hành vi) cùng đặc điểm của chúng:
| LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI |
| Kĩ năng thể hiện sự tự tin Kĩ năng giao tiếp Kĩ năng lắng nghe tích cực Kĩ năng trình bày, diễn đạt ý tưởng Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn Kĩ năng hợp tác Kĩ năng đặt mục tiêu Kĩ năng quản lí thời gian Kĩ năng tự phục vụ LIÊN QUAN ĐẾN SUY NGHĨ- TRÌ TUỆ Kĩ năng tư duy phê phán Kĩ năng giải quyết vấn đề Kĩ năng ra quyết định Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin Kĩ năng tư duy sáng tạo LIÊN QUAN ĐẾN CẢM XÚC: Kĩ năng tự nhận thức Kĩ năng kiên định Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm Kĩ năng xác định giá trị Kĩ năng kiểm soát cảm xúc Kĩ năng ứng phó căng thẳng Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợKĩ năng cảm thông, chia sẻ |
Giá trị sống
Một thứ gì đó có giá trị khi nó được xem là cần thiết, là tốt, được mong đợi và có ảnh hưởng chi phối đến tình cảm, thái độ, hành vi của một cá nhân. Giá trị sống là những nguyên tắc hướng dẫn, giúp ta chọn đường đi đúng. Giá trị sống được hình thành trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân, nhưng giai đoạn vị thành niên (10 - 18 tuổi) là giai đoạn có ý nghĩa nhất. Về mặt xã hội, giá trị là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận. Giá trị là quy tắc sống, nó có vị trí to lớn trong đời sống, và định hướng cho cuộc sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội mà họ tin là tốt, là đúng. Trên thực tế có nhiều hướng khác nhau trong xác định các giá trị sống, nhưng nhìn chung có những giá trị nền tảng thường được nêu trong hình ảnh dưới đây:
Từ xem xét trên, có thể thấy, giá trị sống liên quan nhiều đến phương diện cảm xúc-tình cảm và thái độ của con người. Hai công trình dưới đây đã cho thấy giáo dục kĩ năng sống và giá trị sống mang đến cho các em nhân tính cách tích cực.
- PERSONALITY DEVELOPMENT AND VALUE EDUCATION- AN EMPIRICAL STUDY OF THEIR CO-RELATION, Vijaya Lakshmi Mohanty- Sri Sri University (2014)
- Sách: Human Values and Life Skills for Personality Development, B.K. STHAPAK (2017)
Hai nghiên cứu trên tập trung nhấn mạnh việc thay thay đổi hành vi tích cực (thói quen) để tạo nên một sự cân bằng của 3 mặt trí tuệ, thái độ-tình cảm và kĩ năng/năng lực trong sự phát triển tính cách cá nhân.
Đạo đức liên quan gì với nhân cách? Giáo dục nhân cách hay giáo dục đạo đức?
Thường trong nhà trường Việt Nam chúng ta hay nói đến giáo dục đạo đức hơn là giáo dục nhân cách/ tính cách. Về bản chất khái niệm, đạo đức là một hợp phần của nhân cách, là thể hiện của nhân cách và cũng là kết quả của quá trình trau dồi phát triển nhân cách. Những giá trị phổ biến của đạo đức thể hiện trong các khái niệm: thiện- ác, lẽ phải, công bằng, văn minh, lương tâm, trách nhiệm…. Nói khác đi, giá trị đạo đức là tiêu chuẩn của thiện và ác, tốt và xấu chi phối hành vi và những lựa chọn/quyết định của một cá nhân. Đạo đức của cá nhân có thể xuất phát từ xã hội và chính phủ, tôn giáo hoặc bản thân. Khi các giá trị đạo đức xuất phát từ xã hội và chính phủ, thì chúng có thể bị thay đổi khi luật pháp và đạo đức của xã hội thay đổi. Đặc biệt, giá trị đạo đức xuất phát từ chính bản thân của một người. Trên thực tế, bất kỳ hình thức kỷ luật nào, thực hành nào được áp dụng để thay đổi hành vi của trẻ cũng sẽ giúp các em dần dần hình thành được trong chính mình năng lực phân biệt hành vi đúng với hành vi sai trái. Nghĩa là, mỗi đứa trẻ có thể đưa ra lựa chọn hành vi thể hiện dựa trên kiến thức về tiêu chuẩn/nguyên tắc đạo đức của riêng mình. Bên cạnh đó, tôn giáo cũng góp phần hình thành trong học sinh các giá trị đạo đức bởi lẽ hầu hết các tôn giáo đều có sẵn các danh sách về việc làm và không nên làm, một bộ mã mà các tín đồ của nó nên sống theo.
5. Mười năng lực và sáu phẩm chất mà Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ hình thành và phát triển cho học sinh là những hợp phần nhân cách của học sinh
Mục tiêu giáo dục tổng quát của Chương trình giáo dục phổ thông được áp dụng từ năm 2020 bao hàm 10 năng lực và sáu phẩm chất cần phát triển cho học sinh. Hình ảnh dưới đây thể hiện tập hợp các năng lực và phẩm chất này.
Hình ảnh trên cho thấy đọc là học, là tự học. Giúp học sinh xây dựng thói quen đọc sách, kĩ năng đọc để các em phát triển nhân cách tích cực là một trong những giải pháp có tính chiến lược thực hiện thành công mục tiêu giáo dục tống quát của Chương trình Giáo dục phổ thông quốc gia mới. Thực vậy, Công Văn Đổi mới thư viện và phát triển văn hóa đọc trong nhà trường PT, MN (2015) đã mô tả giá trị của đọc sách mà nhà trường có thề mang đến cho HS khi các em tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới: “Một trong những mục tiêu của đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển năng lực tự học, biết thu thập và xử lý thông tin từ các nguồn khác nhau và ngày càng đa dạng, phong phú để có năng lực học tập suốt đời. Hệ thống thư viện trường học với các tiêu chí mới sẽ góp phần tích cực đáp ứng yêu cầu đó. Nhằm phát huy hiệu quả của hệ thống thư viện trường học, thúc đẩy phong trào đọc, hình thành thói quen đọc, góp phần phát triển văn hóa đọc trong nhà trường và cộng đồng; đồng thời khuyến khích học sinh tìm hiểu, thực hành các hoạt động nghiên cứu khoa học và vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị các sở giáo dục và đào tạo chỉ đạo thực hiện 10 yêu cầu đổi mới thư viện và phát triển văn hóa đọc. Thêm nữa, Bộ Giáo dục-Đào tạo (2018) cũng đã công bố Kế hoạch thực hiện Đề án Phát triển Văn hóa đọc đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 của Chính phủ trong đó cũng nhấn mạnh mục tiêu xây dựng và phát triển thói quen, nhu cầu, kỹ năng và phong trào đọc trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là lực lượng thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên, người dân ở vùng nông thôn, nhằm góp phần nâng cao dân trí, phát triển tư duy, khả năng sáng tạo, bồi dưỡng nhân cách, tâm hồn, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật, hình thành lối sống lành mạnh, đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập.
6. Thói quen đọc sách, đọc sách góp phần phát triển nhân cách học sinh như thế nào?
Những bàn bạc trên cho thấy nhân cách là một thuật ngữ có nội hàm rất rộng bao hàm ba phương diện phát triển điển hình của một cá nhân: trí tuệ/nhận thức/tư duy; cảm xúc-tình cảm và hành vi/hành động. Nội hàm nhân cách rộng đến nỗi chúng ta có thể thấy nó được phản ảnh trong tất cả những mục tiêu giáo dục học sinh trong các chương trình đào tạo của nhà trường. Đọc và thói quen đọc sách (theo mô tả ở trên) góp phần phần phát triển nhân cách học sinh như thế nào? Câu hỏi này sẽ lần lượt được trả lời xuyên qua tất cả các bài tham luận của Tọa đàm. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ xin được đơn cử tập hợp một số bài báo, bài nghiên cứu, cuốn sách đã nghiên cứu và khẳng định tác động tích cực và mạnh mẽ của thói quen đọc và kĩ năng đọc sách đến phát triển nhân cách của học sinh, của trẻ em từ thập niên của những năm 1940 cho đến nay:
| STT | Tên tài liệu | Tác giả | Nơi & Năm công bố |
| 1 | Reading Success and Personality Development | David H. Russell | Elementary EnglishVol. 25, No. 2, pp. 73-82, Feb, 1948 Published by: National Council of Teachers of English |
| 2 | Personality Development through Reading | Elva E. Knight | The Reading TeacherVol. 7, No. 1 Oct., 1953, pp. 21-29Published by: International Literacy Association and Wiley |
| 3 | Reading Ability and Personality Development | C. T. Gray | Pages 133-138 | Published online: 30 Jan 2008 |
| 4 | 10 Ways Reading Enhances Personal Development | Daniela McVicker | Publised online |
| 5 | Books influence personality development | Nasreen | 2018 |
| 6 | Reading habit key to personality development | Our Correspondent | THE EXPRESS TRIBUNETHE EXPRESS TRIBUNE > PAKISTAN > PUNJAB April 21, 2018 |
